Bệnh Ung Thư Vú là loại bệnh xuất hiện khi các tế bào (ung thư) ác tính bị phát hiện trong các mô của vú. Các tế bào ung thư này sau đó phát tán trong các mô hoặc cơ quan và di căn sang các phần khác của cơ thể. Ung thư vú là một căn bệnh hay gặp và chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong số các ung thư của nữ giới ở nhiều nước trên thế giới.
Nguyên nhân và dấu hiệu nhận biết
Nghiên cứu cho thấy, các dấu hiệu cảnh báo ung thư vú không giống nhau ở nhiều phụ nữ. Các dấu hiệu nhận biết cơ bản như:
- Đau nhói, tức ngực.
- Ngứa ở ngực, nổi mẩn đỏ, vùng da sần sùi thường được chẩn đoán là dấu hiệu ung thư vú dạng viêm.
- Một số trường hợp đau ở lưng, giữa 2 bả vai, gáy dễ gây nhầm lẫn với chấn thương dây chằng, viêm xương khớp cột sống.
- Ngực thay đổi kích thước to hơn, chảy xệ và có hình dạng bất thường.
- Sự thay đổi ở núm vú: núm vú có thể dẹt hơn, thụt vào trong, hay tiết dịch có thể lẫn kèm máu. Da núm vú có thể bị sần sùi, có vảy, hay viêm.
- Nách nổi hạch, xuất hiện khối u hoặc vết sưng đau dưới vùng cánh tay kéo dài khoảng một tuần mà không rõ nguyên nhân.
- Cảm giác nóng ở ngực, ửng đỏ (thậm chí có màu tím), sưng đau.

Việc mắc bệnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, sau đây là các yếu tố được cho là nguyên nhân làm tăng khả năng mắc bệnh ung thư vú:
- Yếu tố gia đình: Nếu bạn có mẹ hoặc chị, em gái hoặc con gái đã bị UT vú, đặc biệt là mắc bệnh khi còn trẻ tuổi và nhiều người bị mắc trong cùng gia đình thì nguy cơ của bạn cao hơn người khác rất nhiều.
- Yếu tố tuổi tác: Khi tuổi càng ca,o nguy cơ mắc UT vú của bạn càng tăng. Đặc biệt là phụ nữ trên tuổi 50.
- Yếu tố về nội tiết như: có kinh sớm (<12 tuổi), mãn kinh muộn (>50 tuổi), không sinh con, sinh con muộn, cho con bú dưới 6 tháng hoặc không cho con bú,…
- Tiền sử các ở vú như: viêm vú trong khi sinh đẻ hay quá sản tuyến vú
- Các yếu tố khác như: béo phì, lười vận động, hút thuốc lá, uống rượu, khẩu phần ăn nhiều mỡ động vật, thiếu hụt vitamin,…
Xét nghiệm CA15-3 chẩn đoán ung thư vú
CA15-3 là xét nghiệm được ưu tiên cho ung thư tuyến vú. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay là chỉ định nhiều xét nghiệm để sàng lọc và hỗ trợ nhau trong việc tầm soát ung thư vú như Her2 NEW, CEA, CA19-9,…
Khoảng > 80% bệnh nhân ung thư vú có nồng độ CA15-3 tăng cao trong máu. Vì vậy nó là xét nghiệm quan trọng hỗ trợ cho việc chẩn đoán ung thư tuyến vú. Nồng độ CA15-3 tăng cao ở bệnh nhân ung thư vú là chỉ số đánh giá tình trạng xấu.
Giá trị của xét nghiệm CA 15-3 là định hướng chẩn đoán và theo dõi điều trị. CA 15-3 tăng không đồng nghĩa là bệnh nhân bị ung thư vú và ngược lại CA 15-3 bình thường cũng không loại trừ khả năng bị ung thư vì có tới 20-30% các bệnh nhân ung thư vú nhưng nồng độ CA 15-3 vẫn không cao. Đó là còn chưa kể kết quả xét nghiệm có thể bị ảnh hưởng do bị huyết tán, lipid máu cao, sau khi ăn, huyết thanh chứa nhiều fibrin… Xét nghiệm CA 15-3 là xét nghiệm có giá trị để theo dõi điều trị, đặc biệt với các bệnh nhân ung thư vú trước khi điều trị có nồng độ CA 15-3 cao.

Ngày nay, y học đã đạt được rất nhiều tiến bộ trong nghiên cứu bệnh lý ung thư vú cũng như các phương pháp điều trị. Cách điều trị ung thư vú hiện nay là sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp điều trị tại chỗ, tại vùng bằng phẫu thuật, tia xạ với các phương pháp toàn thân bằng hóa chất, nội tiết và sinh học.
